Tây Hồ ở Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang, là hồ nước có thật, được UNESCO công nhận năm 2011 là cảnh quan văn hoá thế giới. Mai trang, nơi giam Nhậm Ngã Hành dưới đáy hồ trong Tiếu ngạo giang hồ, là hư cấu, nhưng Kim Dung đặt nó bên Cô Sơn, đúng chỗ thi nhân Lâm Bô đời Tống từng sống "lấy mai làm vợ, lấy hạc làm con". Tây Hồ vì thế là nơi hiếm hoi mà thơ cổ, sử thật và kiếm hiệp chồng lên nhau trên cùng một mặt nước.
Tây Hồ: hồ nhân tạo một nửa
Tây Hồ nằm ở phía tây thành Hàng Châu, ba mặt là núi, một mặt giáp thành. Người ta thường nghĩ đây là cảnh tự nhiên, nhưng thực ra Tây Hồ là kết quả của hơn một nghìn năm nạo vét, đắp đê, trồng cây. Không có bàn tay con người, hồ đã bị bồi lấp từ lâu.
Hai con đê nổi tiếng nhất mang tên hai thi nhân từng làm quan ở Hàng Châu:
- Bạch đê mang tên Bạch Cư Dị, thứ sử Hàng Châu đời Đường. Ông có công sửa đê giữ nước tưới ruộng; con đê mang tên ông ngày nay được đặt để tưởng nhớ, các nhà nghiên cứu cho rằng vị trí không trùng hoàn toàn với công trình của ông.
- Tô đê mang tên Tô Đông Pha. Khoảng năm 1090, khi làm tri châu Hàng Châu, ông cho nạo vét hồ đang bị cỏ lấp và dùng bùn đắp thành con đê dài nối hai bờ nam bắc, trên đê có sáu cây cầu.
Tô Đông Pha cũng để lại câu thơ so Tây Hồ với nàng Tây Thi, "dù trang điểm đậm hay nhạt đều đẹp". Từ đó Tây Hồ có thêm tên "Tây Tử hồ".
Tây Hồ thập cảnh
Đời Nam Tống, khi Hàng Châu là kinh đô Lâm An, các hoạ sĩ chọn ra mười cảnh đẹp nhất của hồ để vẽ. Danh sách này được giữ đến nay:
| Tên cảnh | Nghĩa |
|---|---|
| Tô đê xuân hiểu | Bình minh mùa xuân trên Tô đê |
| Khúc viện phong hà | Gió đưa hương sen ở vườn rượu |
| Bình hồ thu nguyệt | Trăng thu trên mặt hồ phẳng |
| Đoạn kiều tàn tuyết | Tuyết còn sót trên cầu Đoạn |
| Liễu lãng văn oanh | Nghe oanh hót giữa sóng liễu |
| Hoa cảng quan ngư | Ngắm cá ở bến hoa |
| Lôi Phong tịch chiếu | Nắng chiều trên tháp Lôi Phong |
| Song phong sáp vân | Hai ngọn núi cắm vào mây |
| Nam bình vãn chung | Tiếng chuông chiều núi Nam Bình |
| Tam đàm ấn nguyệt | Ba đầm in bóng trăng |
Đoạn kiều và tháp Lôi Phong còn gắn với truyền thuyết Bạch xà truyện: Hứa Tiên gặp Bạch Nương Tử ở Đoạn kiều, và Bạch Nương Tử bị nhốt dưới tháp Lôi Phong. Tháp cũ sụp năm 1924, tháp hiện nay dựng lại năm 2002 trên nền cũ.
Cô Sơn và Lâm Bô: gốc thật của Mai trang
Cô Sơn là hòn đảo núi nhỏ nằm trong hồ, nối với bờ bằng Bạch đê. Đầu đời Bắc Tống, ẩn sĩ Lâm Bô sống ở đây hai mươi năm không vào thành, trồng mai nuôi hạc, không lấy vợ. Người đời nói ông "mai thê hạc tử". Câu thơ vịnh mai của ông, "Sơ ảnh hoành tà thuỷ thanh thiển, ám hương phù động nguyệt hoàng hôn" (bóng thưa nghiêng ngả trên nước trong nông, hương thầm lay động dưới trăng chiều), được coi là câu thơ vịnh mai hay nhất. Mộ Lâm Bô và Phóng Hạc đình vẫn còn ở Cô Sơn.
Đây chính là không khí mà Kim Dung mượn cho Mai trang.
Mai trang trong Tiếu ngạo giang hồ
Trong truyện, Mai trang là một trang viện bên Tây Hồ, chủ nhân là "Giang Nam tứ hữu", bốn người mê bốn thú tao nhã:
- Hoàng Chung công: mê đàn (cầm).
- Hắc Bạch tử: mê cờ vây (kỳ).
- Ngốc Bút ông: mê thư pháp (thư).
- Đan Thanh sinh: mê hội hoạ và rượu (hoạ).
Bốn người được Nhật Nguyệt thần giáo giao canh giữ Nhậm Ngã Hành, giáo chủ cũ bị giam trong ngục dưới đáy hồ. Hướng Vấn Thiên dẫn Lệnh Hồ Xung đến, dùng những bảo vật hợp gu từng người làm mồi: khúc đàn Quảng Lăng tán, một cuốn kỳ phổ cổ, một bức thư pháp và bức Khê sơn hành lữ đồ của Phạm Khoan. Mưu kế thành công, Nhậm Ngã Hành thoát ngục.
Những bảo vật ấy có thật không
Một phần có thật. Khê sơn hành lữ đồ của hoạ sĩ Phạm Khoan đời Bắc Tống là kiệt tác sơn thuỷ có thật, hiện lưu ở Bảo tàng Cố cung Đài Bắc. Quảng Lăng tán là khúc đàn cổ có thật, gắn với Kê Khang đời Nguỵ – Tấn, người tương truyền đã gảy khúc này trước khi bị xử tử và than rằng từ nay nó thất truyền. Bản nhạc ngày nay được dựng lại từ một cầm phổ đời Minh. Chuyện Lưu Chính Phong và Khúc Dương soạn Tiếu ngạo giang hồ khúc dựa trên Quảng Lăng tán thì là hư cấu.
Kim Dung chọn Tây Hồ cho Mai trang vì một nghịch lý đẹp: nơi tao nhã nhất Giang Nam lại giấu một nhà ngục; những người mê cầm kỳ thi hoạ lại là cai ngục. Cái thanh và cái tù đứng cạnh nhau, rất hợp chủ đề tự do của Tiếu ngạo.
Tây Hồ trong những truyện khác
- Anh hùng xạ điêu: truyện mở đầu ở Ngưu gia thôn ngoại thành Lâm An, tức Hàng Châu. Về sau Quách Tĩnh, Hoàng Dung trở lại đây chữa thương trong mật thất.
- Thư kiếm ân cừu lục: nhiều cảnh diễn ra quanh Tây Hồ, nơi Hồng Hoa hội và vua Càn Long chạm mặt. Càn Long nhiều lần nam tuần đến Hàng Châu là chuyện có thật.
- Mộ Nhạc Phi bên bờ bắc Tây Hồ là di tích có thật, nơi tượng vợ chồng Tần Cối quỳ trước mộ. Nhạc Phi xuất hiện như một bóng hình đằng sau nhiều truyện Kim Dung, đặc biệt qua cuốn binh thư "Vũ Mục di thư" hư cấu.
Góc nhìn hôm nay
Năm 2011, UNESCO công nhận "Cảnh quan văn hoá Tây Hồ Hàng Châu", nhấn mạnh rằng hồ là mẫu mực cho kiểu vườn cảnh lấy hồ làm trung tâm, ảnh hưởng tới thiết kế cảnh quan ở Nhật Bản và Triều Tiên. Với người đọc kiếm hiệp, một ngày ở Tây Hồ có thể đi theo tuyến: Tô đê buổi sáng, Cô Sơn và mộ Lâm Bô buổi trưa (tưởng tượng Mai trang), mộ Nhạc Phi buổi chiều, Lôi Phong tháp lúc hoàng hôn.
Đọc thêm: thơ Tô Đông Pha về Tây Hồ (nhiều bản dịch tiếng Việt), hồ sơ UNESCO "West Lake Cultural Landscape of Hangzhou", và các chương Mai trang trong Tiếu ngạo giang hồ. Giờ mở cửa các điểm có vé như Lôi Phong tháp nên tra trên kênh chính thức.
Câu hỏi thường gặp
Mai trang trong Tiếu ngạo giang hồ có thật không?
Không. Mai trang là trang viện hư cấu của Kim Dung, đặt bên Tây Hồ, Hàng Châu. Nó mượn không khí của Cô Sơn, nơi ẩn sĩ Lâm Bô đời Tống trồng mai nuôi hạc.
Giang Nam tứ hữu là ai?
Đó là bốn chủ nhân Mai trang trong Tiếu ngạo giang hồ: Hoàng Chung công mê đàn, Hắc Bạch tử mê cờ, Ngốc Bút ông mê thư pháp, Đan Thanh sinh mê hội hoạ và rượu. Họ được giao canh giữ Nhậm Ngã Hành dưới đáy hồ.
Tây Hồ được UNESCO công nhận năm nào?
Năm 2011, với tên "Cảnh quan văn hoá Tây Hồ Hàng Châu". UNESCO đánh giá hồ là kết quả hơn nghìn năm con người cải tạo thiên nhiên theo lý tưởng thẩm mỹ.
Tô đê do ai xây?
Tô đê do Tô Đông Pha cho đắp khoảng năm 1090 khi ông làm tri châu Hàng Châu, dùng bùn nạo vét từ hồ. Đê nối bờ nam với bờ bắc, có sáu cây cầu.
Mai thê hạc tử nghĩa là gì?
Nghĩa là lấy mai làm vợ, lấy hạc làm con, câu người đời dùng để nói về ẩn sĩ Lâm Bô sống ở Cô Sơn đầu đời Bắc Tống. Ông không lấy vợ, chỉ trồng mai và nuôi hạc suốt hai mươi năm.