Kim Dung là bút danh của Tra Lương Dung (查良鏞, Zha Liangyong), người Hải Ninh, tỉnh Chiết Giang, sinh năm 1924 và mất tại Hồng Kông ngày 30 tháng 10 năm 2018. Ông là nhà báo trước khi là nhà văn: trong khoảng mười bảy năm, từ 1955 đến 1972, ông viết 15 bộ truyện võ hiệp đăng nhiều kỳ trên báo, rồi dừng hẳn để lo tờ Minh Báo do chính ông sáng lập. Mười lăm bộ ấy đã thành cái nền chung của cả thể loại kiếm hiệp nói tiếng Hoa, và ở Việt Nam thì thành cả một thứ ngôn ngữ đời thường.
Gốc gác: một dòng họ khoa bảng ở Hải Ninh
Họ Tra ở Hải Ninh là dòng họ có tiếng về khoa cử từ thời Minh, Thanh. Trong họ có nhà thơ Tra Thận Hành đời Khang Hy, và cũng có những người dính vào các vụ "văn tự ngục" – án vì chữ nghĩa – của nhà Thanh. Tra Kế Tá bị liên luỵ trong vụ án Minh sử của Trang Đình Long đầu đời Khang Hy; Tra Tự Đình bị bắt dưới thời Ung Chính, tương truyền vì một đề thi bị xuyên tạc ý nghĩa. Chi tiết về đề thi ấy là chuyện kể nhiều hơn là sử chắc chắn, nhưng việc dòng họ có người chết trong văn tự ngục thì sử có ghi.
Những chuyện nhà ấy không nằm im trong gia phả. Mở đầu Lộc Đỉnh ký, bộ truyện cuối cùng của Kim Dung, chính là vụ án Minh sử, và tên Tra Kế Tá xuất hiện trong truyện. Người đọc tinh ý sẽ thấy cách ông viết về quyền lực và chữ nghĩa có bóng dáng của ký ức gia tộc. Nhà thơ Từ Chí Ma, một gương mặt lớn của thơ mới Trung Quốc, là anh họ bên ngoại của ông.
Thời trẻ, Tra Lương Dung học trong cảnh chiến tranh Trung – Nhật, chuyển trường nhiều lần, từng học ngành ngoại giao ở Trùng Khánh rồi học luật quốc tế tại Đại học Đông Ngô ở Thượng Hải. Mơ ước làm nhà ngoại giao không thành, ông đi làm báo.
Từ phóng viên Đại Công báo đến người viết feuilleton
Năm 1946 ông vào Đại Công báo ở Thượng Hải, làm biên dịch tin quốc tế. Năm 1948 ông được điều sang chi nhánh Hồng Kông, và từ đó gắn đời mình với thành phố này. Đầu thập niên 1950, ông làm ở Tân Vãn báo, tờ báo chiều cùng hệ thống, phụ trách trang phụ san, viết bình phim dưới nhiều bút danh khác nhau và còn viết vài kịch bản cho hãng phim Trường Thành.
Bước ngoặt đến từ một trận đấu võ thật. Năm 1954, hai võ sư Ngô Công Nghi (phái Thái cực) và Trần Khắc Phu (phái Bạch hạc) so tài ở Ma Cao, báo chí Hồng Kông đưa tin rầm rộ. Tân Vãn báo nhân dịp đó mời đồng nghiệp Trần Văn Thống viết truyện võ hiệp đăng nhiều kỳ – đó là Long hổ đấu kinh hoa ký tên Lương Vũ Sinh. Truyện ăn khách, và đầu năm 1955 đến lượt Tra Lương Dung được đề nghị viết. Ông tách chữ "Dung" 鏞 trong tên mình thành hai chữ 金庸, thành bút danh Kim Dung, và bắt đầu đăng Thư kiếm ân cừu lục.
Viết feuilleton là nghề có kỷ luật riêng: mỗi ngày một đoạn ngắn, phải có móc câu ở cuối để người đọc mua báo hôm sau, không được phép ngắt quãng. Cấu trúc nhiều đầu mối, nhiều bất ngờ dồn dập của truyện Kim Dung một phần sinh ra từ nhịp đăng báo ấy.
Minh Báo: tờ báo nuôi bằng tiểu thuyết
Năm 1959, Kim Dung cùng bạn học cũ là Thẩm Bảo Tân lập Minh Báo. Vốn ít, báo nhỏ, thứ hút người đọc ban đầu chính là truyện của ông: Thần điêu hiệp lữ đăng ngay từ những số đầu. Về sau các bộ Ỷ thiên đồ long ký, Thiên long bát bộ, Tiếu ngạo giang hồ, Lộc Đỉnh ký lần lượt ra mắt trên Minh Báo.
Song song với truyện, ông viết xã luận cho báo gần như hằng ngày trong nhiều năm. Người cùng thời nhớ ông như một tay viết hai mặt: buổi sáng viết bình luận thời sự, buổi tối viết chuyện giang hồ. Minh Báo dần thành một tờ báo lớn ở Hồng Kông, ra thêm Minh Báo nguyệt san năm 1966 và nhiều ấn phẩm khác. Đầu thập niên 1990 ông rút khỏi vị trí điều hành rồi bán lại cổ phần.
Chuyện làm báo giải thích vì sao Kim Dung viết nhanh, viết đều và viết nhiều mạch song song. Nó cũng giải thích vì sao ông dừng: năm 1972, đăng xong kỳ cuối Lộc Đỉnh ký, ông tuyên bố không viết truyện võ hiệp mới nữa và giữ đúng lời đến cuối đời.
Mười lăm bộ truyện trong mười bảy năm
Bảng dưới đây ghi thời gian đăng báo lần đầu. Với vài truyện vừa và ngắn, các nguồn ghi năm hơi khác nhau, nên chỉ để thập niên.
| Tác phẩm | Đăng lần đầu | Bối cảnh trong truyện |
|---|---|---|
| Thư kiếm ân cừu lục | 1955 | Đời Càn Long nhà Thanh |
| Bích huyết kiếm | 1956 | Cuối Minh, Lý Tự Thành, Viên Sùng Hoán |
| Anh hùng xạ điêu | 1957–1959 | Nam Tống, nước Kim, Thành Cát Tư Hãn |
| Tuyết sơn phi hồ | 1959 | Đời Càn Long |
| Thần điêu hiệp lữ | 1959–1961 | Nam Tống, quân Mông Cổ vây Tương Dương |
| Phi hồ ngoại truyện | đầu thập niên 1960 | Đời Càn Long |
| Ỷ thiên đồ long ký | 1961–1963 | Cuối Nguyên, Minh giáo nổi dậy |
| Uyên ương đao | đầu thập niên 1960 | Nhà Thanh |
| Bạch mã khiếu tây phong | đầu thập niên 1960 | Vùng Hồi Cương (Tân Cương ngày nay) |
| Liên thành quyết | đầu thập niên 1960 | Không nêu rõ triều đại |
| Thiên long bát bộ | 1963–1966 | Bắc Tống, Liêu, Đại Lý, Tây Hạ |
| Hiệp khách hành | giữa thập niên 1960 | Không ghi rõ triều đại |
| Tiếu ngạo giang hồ | 1967–1969 | Cố ý không ghi rõ triều đại |
| Lộc Đỉnh ký | 1969–1972 | Đời Khang Hy nhà Thanh |
| Việt nữ kiếm | 1970 | Xuân Thu, Ngô – Việt tranh hùng |
Nhìn bảng sẽ thấy một đường đi: những bộ đầu gần với khuôn võ hiệp cũ (báo thù, phục quốc, chính tà rạch ròi), những bộ giữa đẩy chiều sâu nhân vật và lịch sử lên cao nhất, còn bộ cuối lại quay lưng với chính hình mẫu anh hùng mà ông dựng nên.
Viết rồi sửa: người không chịu để yên tác phẩm
Khác nhiều nhà văn, Kim Dung coi bản đăng báo chỉ là bản nháp. Sau khi dừng viết, ông bỏ khoảng mười năm (thập niên 1970) để sửa toàn bộ, in thành bộ "Kim Dung tác phẩm tập" của nhà Minh Hà. Gần ba mươi năm sau, từ 1999 đến khoảng 2006, ông sửa lần nữa – bản thường gọi là "tân tu". Có lần sửa chỉ là gọt câu, có lần đổi hẳn số phận nhân vật, đổi tên người, viết thêm hậu ký. Chuyện này đủ dài để có một bài riêng trong danh mục, nhưng cần nhớ một điều thực tế: khi tranh luận về một chi tiết Kim Dung, hãy hỏi trước là đang nói bản nào.
Những năm sau cùng và di sản
Ngoài tám mươi tuổi, ông vẫn đi học: theo học sử ở Đại học Cambridge và nhận học vị tiến sĩ năm 2010. Ông được nhiều đại học trao danh hiệu, từng làm viện trưởng danh dự khoa nhân văn của Đại học Chiết Giang. Một tiểu hành tinh được đặt tên theo ông. Khi ông mất năm 2018, báo chí khắp Đông Á và cả Việt Nam đưa tin như về một người quen.
Di sản của Kim Dung không nằm ở số sách bán – con số ước tính hàng trăm triệu bản, chưa kể in lậu, nên không ai đếm chắc. Nó nằm ở chỗ ông tạo ra một thế giới dùng chung. Hàng long thập bát chưởng, Cửu Âm chân kinh, Lục đại môn phái, Hoa Sơn luận kiếm là sản phẩm của ông, nhưng người viết sau, người làm phim, người đặt tên quán xá đều mượn như của chung. Ông cũng làm cho truyện võ hiệp, vốn bị coi là đọc giải trí rẻ tiền, được bàn trong giảng đường đại học.
Góc nhìn hôm nay: đọc Kim Dung thế nào cho đáng
- Đọc kèm lời hậu ký. Mỗi bộ trong bản tu chỉnh và tân tu đều có hậu ký của chính tác giả, kể ông viết lúc nào, nghĩ gì, sửa gì. Đó là tư liệu đáng tin hơn mọi lời đồn trên mạng.
- Tách ba lớp. Trong truyện Kim Dung luôn có lịch sử thật (vua chúa, trận đánh, địa danh), truyền thuyết dân gian (Trương Tam Phong, Bồ Đề Đạt Ma) và hư cấu của ông (môn phái, võ công, bí kíp). Thói quen hỏi "cái này có thật không" làm việc đọc thú vị gấp đôi.
- Đến Hải Ninh. Ở thành phố Hải Ninh, Chiết Giang có nhà cũ của dòng họ Tra được mở cho khách tham quan, và nơi đây cũng nổi tiếng với cảnh triều dâng trên sông Tiền Đường – cảnh xuất hiện trong Thư kiếm ân cừu lục.
- Đọc người viết về ông. Các bài phê bình của giới học thuật Hồng Kông, Đài Loan về "Kim học", và ở Việt Nam là những trang viết của các nhà văn mê Kim Dung như Vũ Đức Sao Biển, giúp nhìn truyện từ nhiều phía.
Câu hỏi thường gặp
Kim Dung tên thật là gì?
Tên thật của Kim Dung là Tra Lương Dung (查良鏞). Bút danh Kim Dung có được bằng cách tách chữ "Dung" 鏞 trong tên ông thành hai chữ "Kim" 金 và "Dung" 庸. Ông còn dùng nhiều bút danh khác khi viết bình phim và bài báo.
Kim Dung sinh năm nào, mất năm nào?
Kim Dung sinh năm 1924 ở Hải Ninh, tỉnh Chiết Giang và mất ngày 30 tháng 10 năm 2018 tại Hồng Kông, thọ 94 tuổi. Phần lớn cuộc đời làm báo và viết văn của ông diễn ra ở Hồng Kông.
Kim Dung viết bao nhiêu bộ truyện kiếm hiệp?
Kim Dung viết 15 tác phẩm võ hiệp: 14 bộ có chữ đầu ghép thành câu đối "Phi tuyết liên thiên xạ bạch lộc, tiếu thư thần hiệp ỷ bích uyên" và truyện ngắn Việt nữ kiếm. Tất cả ra đời trong khoảng 1955 đến 1972.
Truyện đầu tiên và truyện cuối cùng của Kim Dung là gì?
Truyện đầu tiên là Thư kiếm ân cừu lục, đăng trên Tân Vãn báo năm 1955. Bộ dài cuối cùng là Lộc Đỉnh ký, đăng trên Minh Báo từ 1969 đến 1972; sau đó ông tuyên bố gác bút võ hiệp.
Vì sao Kim Dung ngừng viết kiếm hiệp?
Năm 1972, sau khi kết thúc Lộc Đỉnh ký, ông tuyên bố không viết truyện võ hiệp mới. Ông dành thời gian cho Minh Báo và cho việc sửa lại toàn bộ tác phẩm cũ, việc kéo dài suốt thập niên 1970 và lặp lại lần nữa từ 1999.
Kim Dung và Lương Vũ Sinh có quan hệ gì?
Hai người là đồng nghiệp cùng làm trong hệ thống Đại Công báo và Tân Vãn báo ở Hồng Kông. Lương Vũ Sinh đăng Long hổ đấu kinh hoa năm 1954, mở đầu dòng võ hiệp mới; Kim Dung theo sau một năm với Thư kiếm ân cừu lục.