Truyện Kim Dung đến Việt Nam từ đầu thập niên 1960, qua ngả báo chí Sài Gòn: các nhật báo dịch và đăng nhiều kỳ gần như song song với bản đang chạy trên báo Hồng Kông, rồi in thành tập bán và cho thuê. Người Việt vì thế đọc Kim Dung sớm hơn độc giả ở Trung Quốc đại lục và cả Đài Loan, nơi truyện của ông nhiều năm không được in chính thức. Từ những trang báo ấy, chữ "chưởng" đi vào tiếng Việt, và "truyện chưởng" trở thành tên gọi của cả một thể loại.
Trước Kim Dung: một thế kỷ đọc "truyện Tàu"
Kim Dung không rơi vào khoảng trống. Từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, ở Nam Kỳ đã có một dòng dịch tiểu thuyết Trung Hoa sang chữ quốc ngữ rất mạnh: Tam Quốc, Thuỷ Hử, Thuyết Đường, Chinh Đông, Chinh Tây, Phong thần… Những người như Nguyễn Chánh Sắt thuộc lớp dịch giả đầu tiên đưa "truyện Tàu" thành món đọc bình dân. Người đọc Việt đã quen với khí phách Lương Sơn Bạc, với tên người tên đất đọc theo âm Hán Việt, với lối kể chương hồi.
Nhờ nền ấy, khi truyện võ hiệp kiểu mới của Hồng Kông xuất hiện, người đọc Sài Gòn có sẵn "tai" để nghe. Cái mới là giọng văn hiện đại hơn, tâm lý nhân vật sâu hơn, và võ công được tả như một thế giới riêng có hệ thống.
Lên báo Sài Gòn: cuộc đua dịch mỗi ngày
Đầu thập niên 1960, báo chí Sài Gòn cạnh tranh gắt, và truyện đăng nhiều kỳ là vũ khí giữ độc giả. Truyện chưởng tỏ ra đặc biệt hợp: mỗi kỳ ngắn, kết bằng một tình huống treo, người đọc phải mua báo ngày mai. Nhiều tờ nhật báo chạy truyện chưởng hằng ngày, có tờ chạy cùng lúc hai ba truyện.
Vì truyện gốc cũng đang đăng từng ngày ở Hồng Kông, người dịch ở Sài Gòn làm việc theo nhịp của tờ báo bên kia. Theo hồi ức của những người trong nghề được kể lại nhiều lần, báo Hồng Kông được gửi sang theo đường hàng không, đến tay là dịch ngay để kịp số báo. Hệ quả là nhiều bản dịch đầu tiên bám theo bản đăng báo – lớp văn bản mà về sau Kim Dung sửa lại hai lần. Một số độc giả lớn tuổi nhớ những chi tiết không còn trong sách in bây giờ, chính vì lý do này.
Đăng báo xong, truyện được gom in thành tập mỏng, bán ở sạp và cho thuê. Có những bộ được đặt tên tiếng Việt khác hẳn tên gốc để dễ bán: Thần điêu hiệp lữ thành Thần điêu đại hiệp – tên đến nay vẫn quen hơn tên gốc; Ỷ thiên đồ long ký từng ra mắt với tên Cô gái Đồ Long; Thiên long bát bộ cũng từng có bản in mang tên một môn võ trong truyện là Lục mạch thần kiếm.
Dịch giả và lựa chọn Hán Việt
Những cái tên như Từ Khánh Phụng, Hàn Giang Nhạn gắn với các bản dịch Kim Dung đầu tiên ở Sài Gòn và được nhiều thế hệ người đọc nhớ. Công việc của họ không chỉ là chuyển ngữ. Họ phải quyết định cả một hệ thống tên gọi mà về sau thành chuẩn:
- Tên người, tên phái đọc theo Hán Việt: Quách Tĩnh, Hoàng Dung, Kiều Phong, Lệnh Hồ Xung, Thiếu Lâm, Võ Đang, Cái Bang. Đây là thói quen của truyện Tàu, nhưng nó cũng giữ được không khí cổ mà phiên âm kiểu khác không có.
- Tên chiêu thức giữ nguyên chữ: Hàng long thập bát chưởng, Lăng ba vi bộ, Độc Cô cửu kiếm. Người đọc không cần biết hết nghĩa từng chữ vẫn cảm được cái hay, và những cái tên này thành vốn chung.
- Lời thoại pha giọng Việt: "tại hạ", "đại ca", "tiểu đệ", "cô nương" nằm cạnh những câu nói rất đời thường của người miền Nam, tạo nên giọng truyện chưởng mà người đọc nhận ra ngay.
Cũng phải nói thẳng: thời ấy nhiều bản dịch làm vội, có chỗ lược, có chỗ thêm, và không ít sách in đề tên Kim Dung nhưng thật ra là truyện của người khác được gán tên cho dễ bán – chuyện này xảy ra cả ở Hồng Kông, Đài Loan chứ không riêng Việt Nam. Người sưu tầm sách cũ hiện nay vẫn phải đối chiếu nội dung để biết bản mình có là gì.
Cơn sốt chưởng: từ sạp báo đến tiệm truyện thuê
Cuối thập niên 1960 – đầu 1970, truyện chưởng là món đọc phổ biến bậc nhất ở các đô thị miền Nam. Tiệm cho thuê truyện mọc lên khắp nơi: người đọc thuê từng tập, đọc xong trả, thuê tập kế. Một bộ dài như Thiên long bát bộ có thể chiếm hàng chục tập mỏng xếp kín kệ.
Cơn sốt để lại dấu vết trong tiếng nói hằng ngày. "Truyện chưởng" là cách người Việt gọi truyện võ hiệp, lấy chữ "chưởng" (bàn tay, đòn đánh bằng bàn tay) – thứ võ công xuất hiện dày đặc trong truyện. Từ đó có "đánh chưởng", "ra chưởng", "dính chưởng". Tên nhân vật cũng thành danh từ chung: "Nhạc Bất Quần" để chỉ kẻ đạo đức giả, "Vi Tiểu Bảo" để chỉ kẻ khéo luồn lách. Đây là một hiện tượng hiếm: một tác giả nước ngoài để lại dấu vết trong khẩu ngữ của một dân tộc khác.
Người đọc Kim Dung ở miền Nam thời ấy thuộc đủ thành phần: học trò, sinh viên, công chức, nhà văn. Truyện được bàn ở quán cà phê, trên mặt báo, trong các bài tạp bút – có người phê là đọc giải trí vô bổ, có người coi Kim Dung là văn chương thật sự. Cuộc tranh luận ấy cũng diễn ra y hệt ở Hồng Kông cùng thời.
Gián đoạn và trở lại
Sau năm 1975, việc in và đọc truyện chưởng bị gián đoạn một thời gian. Từ cuối thập niên 1980, khi hoạt động xuất bản cởi mở hơn, truyện Kim Dung được in lại rộng rãi, lần này đến với độc giả cả nước chứ không riêng phía Nam. Nhiều bộ được in lại từ các bản dịch cũ, có hiệu đính; cũng có những bản dịch mới. Thế hệ lớn lên trong thập niên 1990 lại có một cơn sốt mới, lần này đi cùng tiệm truyện thuê ở khắp các tỉnh thành.
Ở giai đoạn này xuất hiện những người viết về Kim Dung một cách nghiêm túc bằng tiếng Việt. Tiêu biểu là nhà văn Vũ Đức Sao Biển với loạt sách Kim Dung đời tôi, đọc truyện Kim Dung qua trải nghiệm sống của người Việt – một cách đọc rất khác giới nghiên cứu Hồng Kông, Đài Loan. Trên báo chí và diễn đàn, những cuộc bàn về nhân vật, về chính tà, về bản dịch nào đúng hơn tiếp tục kéo dài đến tận thời internet.
Khi Kim Dung mất vào tháng 10 năm 2018, báo chí Việt Nam đưa tin dày đặc, nhiều bài viết như tiễn một người quen của nhiều thế hệ – điều ít nhà văn nước ngoài nào có được ở Việt Nam.
Mốc thời gian
- Đầu thế kỷ 20 – Dịch truyện Tàu thành món đọc bình dân ở Nam Kỳ.
- 1955 – Kim Dung bắt đầu viết ở Hồng Kông với Thư kiếm ân cừu lục.
- Đầu thập niên 1960 – Truyện Kim Dung xuất hiện trên báo Sài Gòn, dịch gần như song song với bản gốc đang đăng.
- Cuối 1960 – đầu 1970 – Cơn sốt truyện chưởng, tiệm truyện thuê lan rộng, chữ "chưởng" vào khẩu ngữ.
- Sau 1975 – Việc in truyện chưởng gián đoạn một thời gian.
- Cuối thập niên 1980 – 1990 – In lại rộng rãi, truyện đến với độc giả cả nước.
- 2018 – Kim Dung mất, báo chí Việt Nam đưa tin rộng rãi.
Góc nhìn hôm nay: tìm lại dấu vết
- Sách cũ: các bản in Sài Gòn thập niên 1960–1970 nay là đồ sưu tầm, xuất hiện ở các chợ sách cũ và nhóm mua bán sách xưa. Khi mua nên xem trang đầu để biết tên dịch giả, nhà in, và đối chiếu nội dung để tránh sách gán tên.
- So bản dịch: đặt một chương của bản dịch cũ cạnh bản dịch theo bản tu chỉnh là cách nhanh nhất để thấy văn bản Kim Dung đã thay đổi thế nào.
- Đọc người Việt viết về Kim Dung: loạt Kim Dung đời tôi của Vũ Đức Sao Biển là điểm khởi đầu dễ đọc.
- Hỏi người lớn tuổi: nhiều gia đình còn người từng thuê truyện từng tập, từng chờ báo mỗi sáng. Ký ức ấy là một phần lịch sử đọc của người Việt mà sách vở chưa ghi đủ.
Câu hỏi thường gặp
Truyện Kim Dung vào Việt Nam từ khi nào?
Truyện Kim Dung xuất hiện trên báo Sài Gòn từ đầu thập niên 1960, được dịch và đăng nhiều kỳ gần như song song với bản gốc đang đăng ở Hồng Kông, sau đó in thành tập bán và cho thuê.
Vì sao gọi là truyện chưởng?
"Chưởng" là bàn tay, chỉ các đòn đánh bằng bàn tay vốn xuất hiện dày đặc trong truyện võ hiệp như Hàng long thập bát chưởng. Người Việt lấy chữ này gọi cả thể loại là truyện chưởng, về sau có thêm phim chưởng.
Ai dịch Kim Dung đầu tiên ở Việt Nam?
Những dịch giả gắn với các bản Kim Dung đầu tiên ở Sài Gòn gồm Từ Khánh Phụng, Hàn Giang Nhạn và một số người khác. Họ dịch theo bản đăng báo Hồng Kông, đặt nền cho hệ thống tên gọi Hán Việt quen thuộc đến nay.
Vì sao Thần điêu hiệp lữ ở Việt Nam gọi là Thần điêu đại hiệp?
Đó là tên các bản dịch đầu tiên đặt cho dễ nhớ, dễ bán, và đã quen với người đọc Việt đến mức thường được dùng thay tên gốc. Tương tự, Ỷ thiên đồ long ký từng được in với tên Cô gái Đồ Long.
Người Việt đọc Kim Dung trước người Trung Quốc đại lục phải không?
Ở phần lớn đại lục, truyện Kim Dung chỉ được in chính thức từ khoảng thập niên 1980–1990, còn ở Đài Loan bị hạn chế đến cuối thập niên 1970. Độc giả miền Nam Việt Nam đọc từ đầu thập niên 1960, nên quả thật sớm hơn nhiều nơi nói tiếng Hoa.