Môn PháiWiki
Tìm
Thế giới Kim Dung

Ba lần sửa truyện Kim Dung: bản cũ, bản tu chỉnh và bản tân tu

Truyện Kim Dung có ba lớp: bản đăng báo 1955–1972, bản tu chỉnh thập niên 1970 và bản tân tu 1999–2006; tên, tình tiết, kết cục có chỗ khác nhau rõ rệt.

Ba lần sửa truyện Kim Dung: bản cũ, bản tu chỉnh và bản tân tu

Truyện Kim Dung có ba lớp văn bản chính. Bản cũ là bản đăng báo nhiều kỳ từ 1955 đến 1972. Bản tu chỉnh là bản ông sửa toàn bộ trong thập niên 1970, in thành bộ sách của nhà Minh Hà ở Hồng Kông. Bản tân tu là lần sửa thứ hai, làm từ 1999 đến khoảng 2006. Ba bản khác nhau từ câu chữ đến tình tiết, có khi đổi cả tên và số phận nhân vật, nên khi hai người cãi nhau về một chi tiết Kim Dung, rất có thể cả hai đều đúng – chỉ là đọc hai bản khác nhau.

Ba bản trong một bảng

Bản cũ (bản báo)Bản tu chỉnhBản tân tu
Thời gian1955–1972, đăng nhiều kỳThập niên 1970, sửa xong khoảng 19801999 đến khoảng 2006
Nơi inTân Vãn báo, Hương Cảng thương báo, Minh Báo và một số tạp chíBộ "Kim Dung tác phẩm tập" của nhà Minh HàCác nhà xuất bản giữ bản quyền ở Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc đại lục
Đặc điểmViết nhanh, nhiều chỗ mâu thuẫn, nhiều chi tiết kỳ quặc, mỗi kỳ đều có móc câuGọt văn, sửa mâu thuẫn, bớt yếu tố hoang đường, thêm chú thích lịch sử và hậu kýSửa sâu tâm lý nhân vật, đổi một số kết cục, trả lời góp ý của độc giả và học giả
Ai hay đọcThế hệ đọc báo hằng ngày; nhiều bản dịch cũ dựa theoPhần lớn độc giả từ thập niên 1980 đến nay; được coi là bản "chuẩn" lâu nhấtĐộc giả mua sách sau thập niên 2000

Bản cũ: viết cho tờ báo ngày mai

Viết feuilleton nghĩa là mỗi ngày nộp một đoạn, không có thời gian quay lại sửa phần đã đăng. Kim Dung từng thừa nhận trong các lời tựa rằng bản báo có nhiều chỗ sơ sót: nhân vật xuất hiện rồi biến mất không lời giải thích, chi tiết trước sau không khớp, có những nhân vật thừa. Một số tình tiết cũng mang màu sắc thần quái của võ hiệp cũ mà về sau ông thấy không hợp.

Với Thiên long bát bộ, bản báo còn có một đoạn không phải do ông viết: năm 1965, khi ông đi châu Âu, nhà văn Nghê Khuông viết thay một thời gian. Đoạn ấy bị bỏ trong lần sửa đầu tiên.

Bản cũ có giá trị riêng với người nghiên cứu, vì nó cho thấy tác giả nghĩ gì khi viết lần đầu, và với độc giả lớn tuổi, vì đó là bản họ nhớ. Các bản dịch tiếng Việt ra đời ở miền Nam trong thập niên 1960 – đầu 1970 phần nhiều dịch song song khi truyện còn đang đăng ở Hồng Kông, nên bám theo lớp văn bản này.

Bản tu chỉnh: mười năm gọt lại

Gác bút năm 1972, Kim Dung dành gần trọn thập niên 1970 để sửa từng bộ. Công việc gồm mấy loại:

  • Gọt câu chữ: bỏ những đoạn kéo dài vì nhịp báo, làm văn gọn hơn.
  • Sửa cấu trúc: gộp hoặc bỏ nhân vật thừa. Ví dụ nổi tiếng nhất ở Anh hùng xạ điêu: bản cũ có nhân vật Tần Nam Cầm là mẹ Dương Quá; bản tu chỉnh bỏ nhân vật này, để Mục Niệm Từ làm mẹ Dương Quá. Người đọc bản dịch cũ đôi khi ngơ ngác khi đọc bản mới vì chuyện này.
  • Bớt hoang đường: cắt bớt các con vật, phép lạ kiểu thần quái, để võ công gần với "có thể tin trong truyện" hơn.
  • Thêm phần lịch sử: chú thích về nhân vật, sự kiện có thật; một số bộ có phụ lục khảo cứu. Bích huyết kiếm có phụ lục "Viên Sùng Hoán bình truyện", một bài viết dài về vị tướng cuối Minh.
  • Đặt lại tên hồi: tên các hồi của Thiên long bát bộ ghép lại thành năm bài từ do Kim Dung tự soạn; tên các hồi của Lộc Đỉnh ký lấy từ câu thơ của Tra Thận Hành, nhà thơ đời Khang Hy cùng dòng họ với ông.
  • Viết hậu ký: mỗi bộ có lời bạt kể hoàn cảnh viết và suy nghĩ của tác giả.

Bản tu chỉnh là bản được in và đọc nhiều nhất trong khoảng hai mươi năm, là nền cho phần lớn phim chuyển thể từ thập niên 1980 và cho các nghiên cứu "Kim học". Khi người ta nói "truyện Kim Dung" mà không nói gì thêm, thường là nói bản này.

Bản tân tu: lần sửa gây tranh cãi

Gần ba mươi năm sau, khi đã ngoài bảy mươi, Kim Dung quyết định sửa lần nữa. Ông nói muốn sửa những chỗ độc giả và giới nghiên cứu chỉ ra còn vô lý, và muốn nhân vật có tâm lý sâu hơn. Lần này có những thay đổi làm người đọc cũ phản ứng mạnh:

Thần điêu hiệp lữ: một cái tên bị đổi

Trong bản cũ và bản tu chỉnh, đạo sĩ Toàn Chân phạm tội với Tiểu Long Nữ mang tên Doãn Chí Bình. Doãn Chí Bình lại là tên một nhân vật có thật – một vị chưởng giáo của Toàn Chân giáo, được tôn trọng trong lịch sử Đạo giáo. Bản tân tu đổi tên nhân vật thành Chân Chí Bính, tách hẳn khỏi người thật. Đây là ví dụ rõ nhất về trách nhiệm của tiểu thuyết khi mượn tên người có thật.

Anh hùng xạ điêu: tình cảm của Hoàng Dược Sư

Bản tân tu gợi ý rằng Hoàng Dược Sư từng có tình cảm thầm kín với đệ tử Mai Siêu Phong. Nhiều độc giả coi đó là một nét tâm lý thêm vào hợp lý; nhiều người khác thấy nó làm hỏng hình ảnh Đông Tà si tình với người vợ đã mất. Bản này cũng viết rõ hơn về Hoàng Thường, người trong truyện được gán là tác giả Cửu Âm chân kinh – Hoàng Thường là nhân vật có thật đời Bắc Tống, người hiệu đính bộ Đạo tạng; việc ông soạn Cửu Âm chân kinh là hư cấu.

Thiên long bát bộ: cái kết của Đoàn Dự

Ở bản tu chỉnh, Đoàn Dự cuối cùng được ở bên Vương Ngữ Yên. Bản tân tu đổi lại: chàng nhận ra mình si mê pho tượng ngọc trong hang núi, không phải con người thật, và hai người không thành đôi trọn vẹn. Người ủng hộ cho rằng nó hợp với tinh thần Phật giáo "si mê là ảo" của cả bộ; người phản đối thấy cái kết cũ đẹp hơn.

Vì sao một nhà văn sửa đi sửa lại

Có ba lý do Kim Dung tự nêu hoặc dễ thấy qua văn bản. Một là hoàn cảnh viết báo khiến bản đầu thô. Hai là ông coi trọng tính chính xác lịch sử, càng về già càng muốn văn bản đúng hơn. Ba là ông xem tác phẩm như vật sống, người đọc có quyền góp ý và tác giả có quyền đáp lại.

Đây cũng là điểm khiến Kim Dung khác nhiều nhà văn đại chúng cùng thời, khi phần lớn truyện võ hiệp đăng báo chỉ được in lại gần như nguyên dạng. Nhờ ba lớp văn bản, giới nghiên cứu có tư liệu hiếm để thấy một nhà văn thay đổi suy nghĩ qua gần năm mươi năm.

Góc nhìn hôm nay: chọn bản nào

  • Đọc lần đầu: bản tu chỉnh là lựa chọn an toàn nhất, vì phần lớn phim, bài phân tích và cuộc trò chuyện đều dựa trên nó.
  • Đã mê, muốn đọc lại: bản tân tu cho thấy Kim Dung tuổi già nghĩ khác thế nào về nhân vật của mình – đọc với tâm thế xem một "bản đạo diễn cắt lại".
  • Thích nghiên cứu: tìm bản báo hoặc các bản dịch cũ, đặt cạnh bản tu chỉnh mà so. Các diễn đàn người đọc Kim Dung ở Hồng Kông, Đài Loan có nhiều bảng so sánh chi tiết giữa các bản.
  • Khi tranh luận: luôn nói rõ "theo bản nào". Câu hỏi "mẹ Dương Quá là ai" có hai đáp án đúng.

Câu hỏi thường gặp

Kim Dung sửa truyện mấy lần?

Kim Dung sửa toàn bộ tác phẩm hai lần lớn: lần thứ nhất trong thập niên 1970, lần thứ hai từ 1999 đến khoảng 2006. Vì vậy có ba lớp văn bản: bản báo, bản tu chỉnh và bản tân tu.

Bản tân tu Kim Dung khác bản cũ ở đâu?

Bản tân tu sửa sâu tâm lý nhân vật và đổi một số chi tiết lớn, như đổi tên Doãn Chí Bình thành Chân Chí Bính trong Thần điêu hiệp lữ, gợi ý tình cảm của Hoàng Dược Sư với Mai Siêu Phong, và viết lại kết cục của Đoàn Dự với Vương Ngữ Yên.

Mẹ của Dương Quá là ai?

Trong bản tu chỉnh và tân tu, mẹ Dương Quá là Mục Niệm Từ. Trong bản báo cũ, mẹ Dương Quá là Tần Nam Cầm, nhân vật đã bị Kim Dung bỏ khi sửa truyện.

Vì sao Kim Dung đổi tên Doãn Chí Bình?

Doãn Chí Bình là tên một vị chưởng giáo Toàn Chân giáo có thật trong lịch sử. Để không gán hành vi xấu của nhân vật hư cấu cho người thật, bản tân tu đổi tên nhân vật thành Chân Chí Bính.

Nên đọc bản Kim Dung nào?

Người đọc lần đầu nên chọn bản tu chỉnh, vì đó là bản phổ biến nhất và là nền của phần lớn phim chuyển thể. Bản tân tu hợp để đọc lại; bản cũ hợp với người thích so sánh và nghiên cứu.

Mở app Môn Phái

Đọc ý đối thủ, ra đúng thế, xuống núi thành cao thủ

Mở app Môn Phái

Bài viết liên quan

Mở app Môn Phái

Đọc ý đối thủ, ra đúng thế, xuống núi thành cao thủ

Mở app Môn Phái Xem app khác